Thần tượng của tôi là ông Lưu Hữu Phước, không hiểu sao những bài hát của ông, khi đã hát muốn hát mãi, hát hoài, hát đến khản cả cổ mà chưa muốn thôi. Có đôi lúc tôi chợt nghĩ: “Ước gì mình cũng đặt được bài hát hay như ông ta, thì còn gì thích cho bằng”. Ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua trong giây lát, vì tự biết rằng: “Với lứa tuổi mười một của tôi, không thể nào làm được điều đó”.
Hình bìa sách: Nhạc và đời của tác giả Lê Giang - Lư Nhất Vũ chủ biên
Anh Vệ quốc đoàn gọi má tôi:
- Bác Chín ơi! Bác cho em Côn (tên trong khai sinh của Triều Dâng – Lương Văn Côn) đi với chúng cháu nghen bác?!
Giọng má tôi run run:
- Trời ơi! Nó còn nhỏ quá, làm sao mà đi đánh giặc được hả chú?
Anh vệ quốc đoàn lại năn nỉ, khẩn khoản:
- Bác đừng sợ, có chúng cháu lo cho em nó mà.
Đấy, tôi trở thành chú bé liên lạc cho Vệ quốc đoàn là như vậy đó. Vào vệ quốc đoàn mới vừa tròn ba ngày, đến ngày thứ ba, tôi tham gia trận đánh đầu tiên – công bằng mà nói, tôi được chứng kiến trận đánh đầu tiên thì đúng hơn.
Vừa tờ mờ sáng, từng tràng moóc – chê nổ xé trời, súng trường súng máy thay nhau nhả đạn. Mảnh đất Kinh sáng Bà Đầm sáng sớm nay như lên cơn sốt vì bom đạn. Tiếng thét xung phong dậy cả góc trời, đoàn quân Vệ quốc ghì chặt khẩu súng lao vun vút vào bọn giặc.
Hơn 19 giờ, tiếng súng im bặt. Đơn vị tôi và các đơn vị bạn rút đi để bảo toàn lực lượng. Đoàn quân lặng lẽ bước trong đêm. Xa xa tiếng người gọi nhau í ới, tiếng khóc trẻ thơ như xé ruột, tiếng thét kinh hoàng của người dân lương thiện bị giặc Pháp cướp mất đi những người thân. Ôi, tiếng kêu thương thống thiết ấy như vô số kim châm vào tim các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, đè lấy từng bước chân họ càng thêm nặng trĩu.
Một cảnh tượng tang thương đập vào mắt đoàn quân: Dưới ánh trăng lờ mờ; bao bà mẹ nằm sóng soài, mắt các mẹ vẫn mở trừng trừng, tay mãi ghì chặt xác con mình. Giặc Pháp đê hèn tàn bạo, chúng không trừ một ai, bọn chúng lấy chày vồ, bổ nát đầu những đứa trẻ sơ sinh vô tội. Trước cảnh thương tâm đau lòng đó, tôi rùng mình nhắm mắt, lần đầu tiên trong đời, tôi mới biết như thế nào là căm thù!
Sau nầy, khi tôi muốn diễn tả về tội ác bọn giặc, dường như cuộc sống đã viết hộ tôi từ lâu rồi. Nói đúng hơn, tôi chỉ là người thư ký sao chép lại một cách trung thực, mạch lạc về vô vàn tội ác tày trời của bọn giặc mà thôi.
*
* *
Cuộc đời chiến sĩ Vệ quốc của tôi chưa đầy một năm. Đến năm 1947 đơn vị tôi được điều về thành lập binh công xưởng, vô hình trung tôi trở thành chú bé công nhân quốc phòng.
Đang cắm cúi vô thuốc cho những trái lựu đạn, bỗng đồng chí Nguyễn Tường Long – Giám đốc Binh công xưởng 12 đến báo:
- Sáu Côn chuẩn bị sáng mai đi học âm nhạc, nghe em.
Niềm hạnh phúc đến với tôi quá đột ngột, nhìn đồng chí Giám đốc, tôi sung sướng đến phát khóc, nói không nên lời.
Sáng hôm sau, chiếc xuồng đưa tôi đi từ từ tách bến, Hàng trăm cánh tay vẫy vẫy mãi theo tôi. Tiếng các anh âm vang đôi bờ kinh:
- Sáu Côn đi mạnh giỏi nghen, học cho thiệt giỏi nghen.
Xuồng đi xa rồi, các anh vẫn còn đứng đó. Có cái gì nghèn nghẹn chận lấy cổ họng tôi.
Những tia nắng chiều le lói vội trốn vào rặng cây xa mờ, anh Hải cho xuồng cập bền bên một bờ kinh. Anh Phẩm xốc khẩu súng Mi-trây-dết (súng tiểu liên của Pháp) và gọi tôi:
- Lên đi bộ, Sáu Côn
Tôi ngạc nhiên và khe khẽ hỏi:
- Tại sao phải đi bộ anh Phẩm?
Anh bảo:
- Ở vùng này bọn giặc Pháp thường hay vào phục kích lắm, đi bộ dễ bề đối phó hơn.
Lời anh vừa dứt, tôi thấy cột xương sống hơi lành lạnh. Hai anh em tôi đi chầm chậm, dò xét. Bỗng chiếc lá trâm bầu rơi trước mặt làm tôi giật mình đánh thót. Đó đây tiếng con nhóc nhen kêu inh ỏi, bốn bề tĩnh mịch đắm mình trong chiều tà, gợi tôi vừa sợ sợ, vừa buồn buồn. Quanh tôi đâu đâu cũng thấy có thằng Tây lẫn núp. Nhìn từng bụi ô rô, đám lác là lù trong trời chiều nhá nhen, tôi ngỡ vô số thằng Tây chực nhảy xổ vồ lấy vặn cổ tôi. Nghĩ đến đây, chân tay tôi rã rời. Tôi thầm nhũ: “Bây giờ mà chết thì tiếc biết mấy, bởi trường âm nhạc đang vẫy gọi tôi”. Đi được một đoạn, có con vật gì đó nhảy thoắt qua đường, mồ hôi tôi vã ra như tắm, tim đập liên hồi. Đi thêm một đoạn dài nữa, bất chợt anh Phẩm đứng sựng lại, thở đánh phào, anh nói trong vui sướng:
- Thoát chết rồi Sáu Côn ơi!
Tôi và anh Phẩm cưới hí hí, rồi hăm hở bước xuống xuồng. Hai ngày đêm, chiếc xuồng của ba anh em tôi lênh đênh trên các triền sông: hết Kinh xáng Thị Đội, qua sông Cái Bần, đến sông Cái Tàu, xuôi Kinh xáng Cụt, về sông Ba Đình rồi dừng lại Chắc Băng. Qua bao triền sông ấy, ba anh em tôi: lúc nắng như thiêu, lúc mưa xối xả, lúc ngược dòng, lúc đói, lúc no. Tôi nói trong nghẹn ngào:
- Hai anh cực với em nhiều quá!
Anh Hải cười, vỗ về an ủi:
- Sáu Côn đừng lo, hãy cố gắng học cho thiệt giỏi, để khi về đánh đờn và hát cho anh em trong Binh công xưởng nghe thì dẫu có cực khổ các anh cũng chịu được.
Anh Phẩm dừng mái chèo cười vẻ đồng tình với lời nói của anh Hải. Trưa ngày thứ ba, anh Phẩm cho xuồng cập bến. Anh Hải bảo tôi cùng bước lên. Tôi lấy làm lạ hỏi:
- Ủa, ở đây đâu có quán hủ tiếu mà lên?
Hai anh cười vui vẻ:
- Trường âm nhạc đây rồi.
Tôi thích quá, suýt té xuống sông. Hai anh đưa tôi đến gặp Ban lãnh đạo nhà trường, rồi tạm biệt tôi ra về.
Tôi khóc òa lên bên bờ sông Chắc Băng, khiến hai anh bối rối phải quay xuồng lại, dỗ cho tôi nín rồi mới ra đi. Nhìn theo hai anh, lòng tôi buồn khôn xiết.
Buổi chiều ngày 10 tháng 5 năm 1948, ngày khai mạc trường âm nhạc do khu IX mở. Các anh vệ quốc đoàn xếp hai hàng thẳng tắp. Từ dưới thuyền ông Trịnh Khánh Vàng tư lệnh phó Khu IX bước lên trong tiến reo hò vang dậy. Các anh Vệ quốc đoàn bồng súng chào oai vệ. Ông Trịnh Khánh Vàng trịnh trọng cắt băng khai mạc. Tiếng kèn đồng trỗi lên lay chuyển cả một góc trời Chắc Băng – Huyện Sử, làm tăng thêm phần long trọng buổi khai mạc. Tôi còn nhớ như in, tiếng đàn ghita của anh Thanh Cao (Nhạc sĩ Thanh Cao hiện giờ là phó giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh) và tiếng đàn Bănggiôlin của anh Thanh Sử (Nhạc sĩ Thanh Sử hiện giờ là giảng viên môn hòa âm tại Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh) đến giúp vui hôm đó. Nhìn hai anh đánh đàn mà thấy thèm và tôi nguyện sẽ làm được như hai anh ấy.
Đêm ngày 02/3/1949 đêm bế mạc trường âm nhạc do Khu IX mở. Tôi cùng đội đồng ca hát bài: Hồ Chí Minh cứu tinh của dân tộc Việt (nhạc Phạm Công Nhiều, lời Quốc Hương) và bài Tầm Vu (nhạc Đắc Nhẫn, lời Quốc Hương), không hiểu sao tôi thấy buồn buồn – Buồn, không phải vì bài hát, mà phải chăng sắp xa mái trường thân yêu, xa các thầy dày công dạy dỗ tôi 9 tháng trời. Lý nào nhạt phai trong tôi: bao tận tụy vất vả của thầy Quốc Hương, dạy tôi từng li từng tí cách luyện thanh, và thể hiện tình cảm bài hát như thế nào cho thật đúng ý đồ của tác giả. Lý nào chết trong tôi: tinh thần dạy học quên giờ giấc của thầy Phạm Công Nhiều.
Các anh các chị đã đi hết rồi, để lại cho mái trường sự vắng vẻ và buồn vô hạn. Giờ đây còn lại tôi và hai bạn nhỏ chờ đơn vị đến đón.
Bảy ngày sau, anh Nguyễn Tường Long – Giám đốc Binh công xưởng 12, cùng anh Hải và anh Phẩm đến đón tôi về, thầy Quốc Hương ôm tôi vào lòng, nói với đồng chí Giám đốc của tôi:
- Tôi đề nghị anh đừng đón Sáu Côn về Binh công xưởng nữa, hãy cho nó đi học thêm văn hóa, bởi tôi thấy nó rất có khiếu âm nhạc.
Lời thầy Quốc Hương vừa dứt, tôi khóc um lên, với lý do: tôi không thể xa các anh trong Binh công xưởng, nơi đã dành cho tôi biết bao tình thương. Thầy Quốc Hương thấy tôi khóc tợn quá, thầy dọa:
- Mầy không chịu đi học hả?! Tao sẽ nhốt mầy vào trại giáo hóa.
Nghe đến từ “giáo hóa” tôi sợ đến chết khiếp… Nếu không có sự nhận xét của thầy Quốc Hương thì làm sao tôi đeo đuổi âm nhạc cho đến bây giờ.
Ba mươi chín năm trôi qua, các anh: Nguyễn Tường Long, anh Hải và anh Phẩm sống chết ra sao tôi không được rõ. Chỉ biết mỗi khi, một nhạc phẩm của tôi đến với cuộc đời đều có công sức và tình cảm của thầy Phạm Công Nhiều, thầy Quốc Hương, anh Nguyễn Tường Long, anh Hải và anh Phẩm luôn luôn chắp cánh cho tôi trên bước đường sáng tạo nghệ thuật.
TRIỀU DÂNG
* Ghi chú: Tháng 7/2026 - Bài được Nguyễn Thị Lý -Trung tâm Dịch vụ Tổng hợp phường Ô Môn sưu tầm và đánh máy lại trong sách: Nhạc và đời/Lê Giang, Lư Nhất Vũ chủ biên.-Hậu Giang: Tổng hợp Hậu Giang,1989.-699tr.;21cm.
* Tóm tắt sách Nhạc và đời: Cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của hơn 20 nhạc sĩ và những tác phẩm nổi tiếng từ những ngày đầu cách mạng đến nay. Trong đó có 04 Nhạc sĩ ở Ô Môn – Cần Thơ là: Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng.
* Sách được đã được số hóa và phục vụ tại Thư viện thành phố Cần Thơ. Mã số: MG.000208; Tài liệu số hóa "Địa chí Đồng bằng Sông Cửu Long". Trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc!